Quai bị là bệnh lây truyền do virus. Chúng lây lan qua giọt bắn, nước bọt và dùng chung đồ vât. Viêm tuyến nước bọt với biểu hiện sưng đau ở vùng mang tai và dưới hàm là thường găp. Bệnh sẽ tự khỏi, tuy nhiên biến chứng viêm tinh hoàn có thể gây teo tinh hoàn và ảnh hưởng đến khả năng sinh sản ở nam. Vắc xin là biện pháp hiệu quả nhất để phòng bệnh.
Tìm hiểu chung quai bị
Bệnh quai bị là một bệnh lây truyền do virus gây ra. Bệnh lây lan qua khi tiếp xúc với giọt bắn của đường hô hấp, nước bọt, vật dụng bi nhiễm bẩn.
Đây là bệnh lý cấp tính, tự khỏi với đặc trưng là sưng các tuyến nước bọt và hay gặp nhất là tuyến nước bọt mang tai. Ngoài ra còn viêm ở một số cơ quan khác như tinh hoàn, buồng trứng, não, mắt, tụy, thận và khớp
Vắc xin giúp phòng ngừa quai bị hiệu quả. Tiêm phòng trước mang thai giúp tạo kháng thể truyền qua nhau thai, bảo vệ bé đến 12 tháng tuổi, tức là đến thời điểm bé có thể tiêm mũi vắc xin phòng quai bị đầu tiên.
Triệu chứng quai bị
Những dấu hiệu và triệu chứng của Quai bị
Giai đoạn ủ bệnh là khoảng 16 -18 ngày; tuy nhiên, các trường hợp có thể sau 12 - 25 ngày kể từ khi tiếp xúc.
Tiền triệu khoảng 3 - 5 ngày bao gồm những triệu chứng: sốt nhẹ, khó chịu, đau nhức toàn thân, đau đầu và chán ăn
Toàn phát sau 48 tiếng kể từ giai đoạn tiền triệu. Viêm tuyến nước bọt: Gây sưng vùng dưới mang tai và dưới hàm, thường gặp là tuyến nước bọt mang tai. 70 - 80 % là sưng cả hai bên với sưng một bên trước và sau đó là sưng bên còn lại. Lỗ tuyến nước bọt ở góc hàm trên đỏ và giãn rộng.
Biến chứng có thể gặp khi mắc Quai bị
Với việc tiêm chủng mở rộng thì quai bị đã hạn chế được những biến chế nguy hiểm. Những biến chứng quai bị có thể gặp như:
- Viêm tinh hoàn là biến chứng phổ biến nhất ở nam giới tuổi trưởng thành. Nó xảy ra ở 20 - 50% các trường hợp quai bị lâm sàng ở nam giới sau tuổi dậy thì. Viêm tiêm hoàn hai bên xảy ra ở 10% các trường hợp. Mức độ teo tinh hoàn xảy ra ở khoảng 35% các trường hợp viêm tinh hoàn do quai bị và nguy cơ cao hơn khi bị viêm cả hai bên; tuy nhiên, vô sinh là rất hiếm. Khả năng sinh sản bị ảnh giảm ở 13% bệnh nhân.
- Viêm buồng trứng xảy ra ở 7% sau tuổi dậy thì.
- Viêm màng não vô khuẩn, viêm não hầu hết là hồi phục hoàn toàn sau điều trị. Giảm thính lực do tổn thương ở thần kinh trung ương cũng hiếm gặp, nó thường làm mất khả năng nghe một bên tai và không đáp ứng với điều trị.
- Viêm tụy: Xảy ra ở 5% số người bị nhiễm quai bị.
Các biến chứng hiếm gặp khác bao gồm viêm cơ tim, viêm tuyến giáp, viêm vú, viêm phổi do virus, viêm thận, viêm khớp và xuất huyết giảm tiểu cầu. Những biến chứng này thường tự khỏi trong vòng 2 - 3 tuần mà không để lại di chứng.
Nhiễm quai bị ở phụ nữ mang thai làm tăng nguy cơ mất phôi, mất thai tự nhiên và thai chết lưu, đặc biệt là trong ba tháng đầu của thai kỳ. Không có mối liên quan nào được tìm thấy giữa quai bị và dị tật bẩm sinh.
Khi nào cần gặp bác sĩ?
Nhận thấy sự xuất hiện của bất kỳ dấu hiệu, triệu chứng nào thì tốt nhất nên đến ngay bệnh viện để được thăm khám, xét nghiệm và được các bác sĩ chuyên khoa hướng dẫn điều trị.
Nguyên nhân quai bị
Quai bị là bệnh truyền nhiễm cấp tính do virus quai bị (Mumps virus), thuộc họ Paramyxoviridae gây ra. Bệnh xảy ra quanh năm nhưng tỷ lệ mắc bệnh cao và dễ thành dịch là vào mùa đông – xuân.
Virus lây truyền từ người bệnh qua người lành qua đường hô hấp. Khi người bệnh nói chuyện, ho, hắt hơi, khạc nhổ, virus trong các hạt nước bọt hoặc dịch mũi họng,... phát tán ra ngoài không khí hoặc bám vào các bề mặt, người lành hít trực tiếp hoặc chạm vào các đồ dùng bị nhiễm virus sẽ có nguy cơ mắc bệnh.
Nguy cơ quai bị
Những ai có nguy cơ mắc phải Quai bị
Tiếp xúc với người bị quai bị qua nước bọt, giọt bắn hoặc sử dụng chung đồ đạc trong gia đình. Đặc biệt là những đối tượng có bệnh lý suy giảm miễn dịch hoặc dùng thuốc ức chế miễn dịch thì nguy cơ lây nhiễm càng cao.
Yếu tố làm tăng nguy cơ mắc phải Quai bị
Yếu tố có thể tăng nguy cơ mắc bệnh này như:
- Người có nguy cơ mắc bệnh quai bị: Chưa tiêm vắc xin đầy đủ phòng ngừa quai bị hoặc những người chưa từng mắc bệnh quai bị;
- Du lịch đến khu vực lưu hành quai bị hoặc tiếp xúc những người bị quai bị đến từ các khu vực này sẽ làm tăng nguy cơ phơi nhiễm quai bị.
Phương pháp chẩn đoán & điều trị quai bị
Phương pháp xét nghiệm và chẩn đoán Quai bị
Kết hợp triệu chứng nêu trên với xét nghiệm giúp xác nhận quai bị. Không phải tất cả các trường hợp quai bị đều biểu hiện viêm tinh hoàn và viêm tuyến mang tai, và có thể biểu hiện không đồng nhất. Trong một đợt dịch bùng phát, chẩn đoán là lâm sàng trong các trường hợp sưng tuyến mang tai có tiền sử phơi nhiễm.
Xét nghiệm:
- IgM;
- IgM;
- RT-PCR.
Phương pháp điều trị Quai bị
Với quai bị không có biến chứng thì bệnh nhân có thể diều trị ngoại trú và cần cách ly 5 ngày kể từ khi xuất hiện triệu chứng để giảm khả năng lây nhiễm
Trường hợp có biến chứng kèm theo thì tùy vào cơ quan mà điều trị chủ yếu là bảo tồn và hỗ trợ để đợi tự phục hồi. Có thể kết hợp đa chuyên khoa nếu có biến chứng ở đa cơ quan.
Chế độ sinh hoạt & phòng ngừa quai bị
Những thói quen sinh hoạt có thể giúp hạn chế diễn tiến của Quai bị
Chế độ ăn nhẹ và cung cấp đủ dịch được khuyến khích.
Tránh các thực phẩm có tính axit (ví dụ như cà chua, phụ gia thực phẩm có chứa giấm) và nước (ví dụ như nước cam) có lợi để giảm đau và khó chịu ở miệng.
Nghỉ ngơi tại giường được khuyến khích để thúc đẩy quá trình phục hồi nhanh chóng và được chỉ định cho những bệnh nhân có trường hợp phức tạp.
Phương pháp phòng ngừa Quai bị
Phương pháp phòng ngừa đặc hiệu
Tiêm ngừa vắc xin quai bị là biện pháp phòng bệnh hiệu quả, giúp ngăn ngừa bệnh lý truyền nhiễm này cùng với các biến chứng nghiêm trọng như viêm tinh hoàn, viêm não, viêm buồng trứng,... Quai bị không có thuốc đặc trị, do đó việc tiêm phòng trở thành lựa chọn bảo vệ sức khỏe quan trọng, giúp giảm đáng kể tỷ lệ mắc bệnh và biến chứng.
- Priorix (GlaxoSmithKline -Bỉ): Được chỉ định cho trẻ từ 9 tháng tuổi trở lên. Vắc xin này phòng ngừa đồng thời Sởi, Quai bị và Rubella, hiệu quả cao và an toàn trong tiêm chủng trẻ nhỏ.
- MMR II (Merck - Mỹ): Phù hợp cho trẻ từ 12 tháng tuổi và người lớn chưa tiêm ngừa đầy đủ, giúp phòng ngừa ba bệnh Sởi, Quai bị và Rubella, với hiệu quả kéo dài nhiều năm.
- Measles Mumps Rubella (Ấn Độ): Dùng cho các đối tượng từ 12 tháng tuổi đến tròn 10 tuổi, mang lại hiệu quả trong phòng ngừa bệnh Sởi, Quai bị và Rubella.
Phòng ngừa không đặc hiệu
Bên cạnh tiêm vắc xin phòng ngừa bệnh quai bị, bạn có thể tham khảo một số biện pháp phòng ngừa quai bị dưới đây:
- Cách ly người mắc quai bị, tránh tập trung đông người khi có dịch, cần cách ly đủ 5 ngày kể từ khi có biểu hiện của viêm tuyến nước bọt.
- Những người tiếp xúc với bệnh nhân và bệnh nhân cần đeo khẩu trang y tế;
- Rửa tay trước và sau khi tiếp xúc với bệnh nhân.
Vì mức độ nguy hiểm của bệnh quai bị, phụ nữ mang thai cần:
- Tiêm phòng vắc xin quai bị trước khi có ý định mang thai;
- Nếu phụ nữ mang thai trong 3 tháng đầu có triệu chứng bệnh quai bị cần đến các cơ sở y tế để được khám, xét nghiệm, chẩn đoán và điều trị và theo dõi hạn chế biến chứng của bệnh.